Thuốc điều trị viêm gan C thế hệ mới nhất, giá rẻ Ấn Độ

  21/09/2018

Nhiễm virus viêm gan C (HCV) là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh gan mạn tính trên khắp thế giới. Số người bị nhiễm virus mạn tính khắp thế giới ước tính khoảng 160 triệu người, nhưng hầu hết bệnh nhân không biết về sư nhiễm virus của mình. ̣ Điều trị lâm sàng đối với bệnh nhân bị bệnh gan liên quan đến HCV đã có những tiến bộ đáng kể trong hai thập kỷ qua, nhờ vào hiểu biết được nâng cao về sinh lý bệnh của bệnh này và do sự phát triển trong các thủ thuật chẩn đoán và sự cải thiện trong điều trị và phòng ngừa.

Chẩn đoán viêm gan C cấp và mạn tính

Chẩn đoán nhiễm HCV cấp và mạn tính dựa trên sự phát hiện HCV RNA bằng phương pháp phân tử nhạy (giới hạn phát hiện dưới < 15 đơn vị quốc tế [IU]/ml). Kháng thể kháng HCV có thể phát hiện được bằng thử nghiệm miễn dịch enzyme (EIA) ở đại đa số bệnh nhân nhiễm HCV, nhưng kết quả EIA có thể âm tính ở bệnh nhân viêm gan C cấp tính giai đoạn sớm và bị ức chế miễn dịch hoàn toàn. Sau sự làm sạch virus tự phát hoặc do điều trị, các kháng thể kháng HCV tồn tại mà không có HCV RNA nhưng có thể giảm và cuối cùng biến mất ở một số bệnh nhân. Việc chẩn đoán viêm gan C cấp tính có thể được thực hiện một cách tin cậy chỉ khi sự chuyển đổi huyết thanh đối với kháng thể kháng HCV có thể được ghi nhận, vì không có chỉ điểm huyết thanh nào chứng minh rằng việc nhiễm HCV đang ở pha cấp mới mắc phải. Không phải tất cả các bệnh nhân bị viêm gan C cấp tính sẽ dương tính với kháng thể kháng HCV tại thời điểm chẩn đoán. Trong những trường hợp này, có thể nghi ngờ viêm gan C cấp tính nếu các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng phù hợp với viêm gan C cấp tính (alanine aminotransferase [ALT] > 10 lần giới hạn trên của mức bình thường, vàng da) mà không có tiền sử bệnh gan mạn tính hoặc các nguyên nhân gây viêm gan cấp tính khác, và/hoặc nếu một nguồn lây nhiễm có khả năng gần đây có thể xác định. Trong mọi trường hợp, HCV RNA có thể phát hiện trong suốt pha cấp mặc dù những khoảng thời gian ngắn ở giữa không phát hiện được HCV RNA có thể xảy ra. Việc chẩn đoán viêm gan C mạn tính dựa trên sự phát hiện cả kháng thể kháng HCV và HCV RNA khi có sự hiện diện của của các dấu hiệu sinh học và mô học của viêm gan mạn tính. Do trong trường hợp nhiễm HCV mới mắc phải, sự làm sạch virus tự phát rất hiếm khi quá 4-6 tháng nhiễm virus, việc chẩn đoán viêm gan C mạn tính có thể được thực hiện sau khoảng thời gian đó.

Khuyến cáo

• Kháng thể kháng HCV là xét nghiệm chẩn đoán đầu tay đối với nhiễm HCV (A1)

• Trong trường hợp nghi ngờ viêm gan C cấp tính hoặc ở những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch, việc xét nghiệm HCV RNA nên là một phần của đánh giá ban đầu (A1)

• Nếu kháng thể kháng HCV được phát hiện, HCV RNA nên được xác định bằng một phương pháp phân tử nhạy (A1)

• Những người có kháng thể kháng HCV dương tính, HCV RNA âm tính nên được xét nghiệm lại về HCV RNA 3 tháng sau đó để xác định thời gian phục hồi thực sự (A1)

Mục tiêu và tiêu chí của điều trị Viêm Gan C mạn tính HCV

Mục tiêu của việc điều trị là chữa khỏi nhiễm HCV để phòng ngừa các biến chứng của bệnh gan và các bệnh ngoài gan liên quan đến HCV, bao gồm viêm hoại tử gan, xơ hóa, xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan (HCC), các biểu hiện ngoài gan và tử vong. Tiêu chí của việc điều trị là đáp ứng virus kéo dài (SVR), được định nghĩa là nồng độ HCV RNA không phát hiện được lúc 12 tuần (SVR12) hoặc 24 tuần (SVR24) sau khi kết thúc điều trị, khi được đánh giá bằng một phương pháp phân tử nhạy với giới hạn phát hiện dưới ≤ 15 IU/ml. Cả SVR12 và SVR24 đã được chấp nhận là các tiêu chí của việc điều trị bởi các cơ quan quản lý ở Mỹ và châu Âu, do sự phù hợp của chúng là 99% . Các nghiên cứu theo dõi dài hạn đã cho thấy đáp ứng virus kéo dài tương ứng với sự chữa khỏi nhiễm HCV chắc chắn ở hơn 99% trường hợp..

Khuyến cáo

• Mục đích của việc điều trị là chữa khỏi nhiễm HCV để phòng ngừa xơ gan, xơ gan mất bù, ung thư biểu mô tế bào gan (HCC), các biểu hiện ngoài gan nặng và tử vong (A1)

• Tiêu chí của việc điều trị là nồng độ HCV RNA không phát hiện được trong một thử nghiệm nhạy (≤ 15 IU/ml) lúc 12 tuần (SVR12) và 24 tuần (SVR24) sau khi kết thúc điều trị (A1)

 • Ở những bệnh nhân bị xơ hóa tiến triển và xơ gan, việc tiệt trừ HCV làm giảm tỷ lệ mất bù và sẽ làm giảm, mặc dù không hủy bỏ, nguy cơ ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Ở những bệnh nhân này cần tiếp tục giám sát ung thư biểu mô tế bào gan (A1)

 • Ở những bệnh nhân bị xơ gan mất bù, việc tiệt trừ HCC làm giảm sự cần thiết phải ghép gan. Chưa rõ liệu việc tiệt trừ HCV có ảnh hưởng đến sự sống còn trung hạn đến dài hạn ở những bệnh nhân này hay không (B1)

Chỉ định điều trị viêm gan C: ai nên được điều trị?

• Tất cả các bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính do HCV còn bù hoặc mất bù, chưa từng điều trị và đã từng được điều trị nên được xem xét điều trị (A1)

• Việc điều trị nên được ưu tiên đối với những bệnh nhân bị xơ hóa hoặc xơ gan đáng kể (điểm số METAVIR F3 đến F4) (A1)

• Những bệnh nhân bị xơ gan mất bù (Child-Pugh loại B và C) nên được điều trị khẩn cấp với phác đồ điều trị không có IFN (A1)

• Việc điều trị nên được ưu tiên bất kể giai đoạn xơ hóa ở những bệnh nhân đồng nhiễm HIV hoặc HBV, những bệnh nhân ở bối cảnh trước hoặc sau ghép gan, những bệnh nhân có các biểu hiện lâm sàng ngoài gan đáng kể (ví dụ: viêm mạch có triệu chứng đi kèm với cryoglobulin máu hỗn hợp liên quan đến HCV, bệnh thận liên quan đến phức hợp miễn dịch trong nhiễm HCV và u lympho không Hodgkin tế bào B) và những bệnh nhân mệt mỏi do suy nhược (A1)

• Việc điều trị nên được ưu tiên bất kể giai đoạn xơ hóa ở những người có nguy cơ lan truyền HCV cao, bao gồm những người đang sử dụng ma túy dạng tiêm, nam giới quan hệ tình dục với nam giới có hoạt động tình dục có nguy cơ cao, phụ nữ ở tuổi sinh đẻ mong muốn có thai, bệnh nhân thẩm phân máu và những người bị giam giữ (B1)

• Việc điều trị đã được khẳng định ở những bệnh nhân bị xơ hóa trung bình (điểm số METAVIR F2)

• Ở những bệnh nhân không bị bệnh gan hoặc bệnh gan nhẹ (điểm số METAVIR F0-F1) và không có các biểu hiện ngoài gan nào được đề cập ở trên, chỉ định và thời gian điều trị có thể theo từng bệnh nhân (B1)

 • Không khuyến cáo điều trị ở những bệnh nhân có tuổi thọ giới hạn do các bệnh đi kèm không liên quan đến gan (B1)

Thuốc điều trị viêm gan C thế hệ mới nhất, giá rẻ

Điều trị nhiễm HCV genotype 1

Điều trị viêm gan C genotype 1- lựa chọn 1

Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1 có thể được điều trị với dạng kết hợp liều cố định không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) và ledipasvir (90 mg) trong một viên duy nhất uống 1 lần/ngày (A1)

• Những bệnh nhân không bị xơ gan, bao gồm bệnh nhân chưa từng được điều trị và đã từng được điều trị, nên được dùng dạng kết hợp liều cố định này trong 12 tuần không có ribavirin (A1) Điều trị có thể rút ngắn 8 tuần nếu bệnh nhân chưa từng điều trị , không xơ gan và nòng độ virus ban đầu< 6.000.000 IU/mL. Nên theo dõi sát nồng độ virus đối với bệnh nhân F3 khi thực hiện điều này. (B1)

• Dựa trên dữ liệu ở những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1, những bệnh nhân bị xơ gan còn bù, bao gồm bệnh nhân chưa từng được điều trị và đã từng được điều trị, nên được dùng dạng kết hợp liều cố định này trong 12 tuần cùng với ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) (A1) • Những bệnh nhân bị xơ gan còn bù có chống chỉ định sử dụng ribavirin hoặc dung nạp kém với ribavirin trong trong khi điều trị nên nhận được dạng kết hợp liều cố định sofosbuvir và ledipasvir trong 24 tuần không có ribavirin (B1)

• Dựa trên dữ liệu ở những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1, điều trị với dạng kết hợp liều cố định sofosbuvir và ledipasvir cùng với ribavirin có thể được kéo dài 24 tuần ở bệnh nhân bị xơ gan còn bù đã từng được điều trị và các yếu tố dự đoán đáp ứng âm tính, như số lượng tiểu cầu < 75 x 103 /μl (B1)

Hiện tại đây là phác đồ điều trị viêm gan C được sử dụng nhiều nhất hiện nay tại Việt Nam, và phác đồ đã chứng minh được hiệu quả rất tốt với các thuốc hiện có trên thị trường như: Thuốc Ledvir, Thuốc Myhep Lvir, Thuốc Virpas...

Điều trị viêm gan C genotype 1-lựa chọn 2

• Những bệnh nhân nhiễm virus viêm gan C (HCV) genotype 1 có thể được điều trị với  một phác đồ không có interferon (IFN) bao gồm dạng kết hợp liều cố định của ombitasvir (75 mg), paritaprevir (12,5 mg) và ritonavir (50 mg) trong một viên nén duy nhất (2 viên nén, 1 lần/ngày cùng với thức ăn), và dasabuvir (250 mg) (1 viên nén, 2 lần/ngày) (A1) • Những bệnh nhân nhiễm HCV subtype 1b không xơ gan nên nhận được sự kết hợp này trong 12 tuần không có ribavirin (A1)

• Những bệnh nhân nhiễm HCV subtype 1b có xơ gan nên nhận được sự kết hợp này trong 12 tuần cùng với ribarivin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) (A1)

• Những bệnh nhân nhiễm HCV subtype 1a không xơ gan nên nhận được sự kết hợp này trong 12 tuần cùng với ribarivin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) (A1)

 • Những bệnh nhân nhiễm HCV subtype 1a có xơ gan nên nhận được sự kết hợp này trong 24 tuần cùng với ribarivin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) (A1)

Điều trị viêm gan C genotype 1- lựa chọn 3

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1 có thể được điều trị với sự kết hợp không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) hàng ngày và simeprevir (150 mg) hàng ngày trong 12 tuần (A1)

• Dựa trên dữ liệu điều trị với sự kết hợp không có IFN khác, khuyến cáo bổ sung ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc

1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) ở những bệnh nhân bị xơ gan (B1)

• Ở những bệnh nhân bị xơ gan có chống chỉ định sử dụng ribavirin, phải xem xét kéo dài thời gian điều trị đến 24 tuần (B1)

Lựa chọn 4 không có IFN, genotype 1

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1 có thể được điều trị với sự kết hợp không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) hàng ngày và daclatasvir (60 mg) hàng ngày trong 12 tuần (A1)

• Dựa trên dữ liệu điều trị với sự kết hợp không có IFN khác, khuyến cáo bổ sung ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc

1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) ở những bệnh nhân bị xơ gan (B1)

• Ở những bệnh nhân bị xơ gan có chống chỉ định sử dụng ribavirin, phải xem xét kéo dài thời gian điều trị đến 24 tuần (B1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 2

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 2- lựa chọn 1

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 2 phải được điều trị bằng ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg), và sofosbuvir (400 mg) hàng ngày trong 12 tuần (A1)

• Việc điều trị nên kéo dài đến 16 hoặc 20 tuần ở những bệnh nhân bị xơ gan, đặc biệt nếu họ đã từng được điều trị (B1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 2- lựa chọn 2

• Những bệnh nhân bị xơ gan và/hoặc đã từng được điều trị có thể được điều trị với PegIFN-α hàng tuần, ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân <75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg), và sofosbuvir (400 mg) hàng ngày trong 12 tuần (A1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 2- lựa chọn 3

• Những bệnh nhân bị xơ gan và/hoặc đã từng được điều trị có thể được điều trị với sự kết hợp không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) hàng ngày và daclatasvir (60 mg) hàng ngày trong 12 tuần (A1). 

Hiện tại phác đồ này hay được dùng ở Việt Nam bởi sự tiện lợi cho bệnh nhân và hiệu quả điều trị của nó. Những thuốc hay được sử dụng là Myhep kết hợp Tasvir, Hepcinat kết hợp Natdac, Viroclear kết hợp Dalsiclear...

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 3

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 3- lựa chọn 1

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 3 có thể được điều trị với sự kết hợp gồm

PegIFN-α hàng tuần, ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân <75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) và sofosbuvir (400 mg) hàng ngày trong 12 tuần (B1)

• Sự kết hợp này là một lựa chọn có giá trị ở những bệnh nhân không đạt được đáp ứng virus kéo dài (SVR) sau khi điều trị bằng sofosbuvir cộng với ribavirin (B1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 3- lựa chọn 2

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 3 có thể được điều trị với ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) và sofosbuvir (400 mg) hàng ngày trong 24 tuần (A1)

• Liệu pháp này dưới mức tối ưu ở những bệnh nhân bị xơ gan đã từng được điều trị và ở những bệnh nhân không đạt được đáp ứng virus kéo dài (SVR) sau khi điều trị bằng sofosbuvir cộng với ribavirin, những bệnh nhân này nên được cho một lựa chọn điều trị thay thế (B1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 3- lựa chọn 3

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 3 không xơ gan có thể được điều trị với sự kết hợp không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) hàng ngày và daclatasvir (60 mg) hàng ngày trong 12 tuần (A1)

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 3 có xơ gan chưa từng được điều trị và đã từng được điều trị nên nhận được sự kết hợp này cùng với ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) trong 24 tuần, trong khi chờ thêm dữ liệu so sánh 12 tuần với ribavirin và 24 tuần có và không có ribavirin ở nhóm bệnh nhân này (B1)

Điều trị nhiễm viêm gan C HCV genotype 4

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 4- lựa chọn 1

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 4 có thể được điều trị với dạng kết hợp liều cố định không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) và ledipasvir (90 mg) trong một viên duy nhất uống 1 lần/ngày (A1)

• Những bệnh nhân không bị xơ gan, bao gồm bệnh nhân chưa từng được điều trị và đã từng được điều trị, nên được dùng dạng kết hợp liều cố định này trong 12 tuần không có ribavirin (A1)

• Dựa trên dữ liệu ở những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1, những bệnh nhân bị xơ gan còn bù, bao gồm bệnh nhân chưa từng được điều trị và đã từng được điều trị, nên được dùng dạng kết hợp liều cố định này trong 12 tuần cùng với ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg)

(B1)

• Những bệnh nhân bị xơ gan còn bù có chống chỉ định sử dụng ribavirin hoặc dung nạp kém với ribavirin trong trong khi điều trị nên nhận được dạng kết hợp liều cố định sofosbuvir và ledipasvir trong 24 tuần không có ribavirin (B1)

• Dựa trên dữ liệu ở những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1, điều trị với dạng kết hợp liều cố định sofosbuvir và ledipasvir cùng với ribavirin có thể được kéo dài 24 tuần ở bệnh nhân bị xơ gan còn bù đã từng được điều trị và các yếu tố dự đoán đáp ứng âm tính, như số lượng tiểu cầu < 75 x 103 /μl (B1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 4- lựa chọn 2

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 4 không xơ gan có thể được điều trị với phác đồ không có IFN bao gồm dạng kết hợp liều cố định của ombitasvir (75 mg), paritaprevir (12,5 mg) và ritonavir (50 mg) trong một viên nén duy nhất (2 viên nén, 1 lần/ngày cùng với thức ăn), trong 12 tuần với ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg), không có dasabuvir (A1)

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 4 bị xơ gan có thể được điều trị với dạng kết hợp liều cố định của ombitasvir (75 mg), paritaprevir (12,5 mg) và ritonavir (50 mg) trong một viên nén duy nhất (2 viên nén, 1 lần/ngày cùng với thức ăn), trong 24 tuần với ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg), không có dasabuvir, trong khi chờ thêm dữ liệu (A1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 4- lựa chọn 3

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 4 có thể được điều trị với sự kết hợp không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) hàng ngày và simeprevir (150 mg) hàng ngày trong 12 tuần (B2)

• Dựa trên dữ liệu với sự kết hợp khác, bổ sung ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) được khuyến cáo ở những bệnh nhân bị xơ gan (B2)

• Ở những bệnh nhân bị xơ gan có chống chỉ định sử dụng ribavirin, phải xem xét kéo dài thời gian điều trị đến 24 tuần (B2)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 4- lựa chọn 4

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 4 có thể được điều trị với sự kết hợp không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) hàng ngày và daclatasvir (60 mg) hàng ngày trong 12 tuần (B2)

• Dựa trên dữ liệu với sự kết hợp khác, khuyến cáo bổ sung ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) ở những bệnh nhân bị xơ gan (B2)

• Ở những bệnh nhân bị xơ gan có chống chỉ định sử dụng ribavirin, phải xem xét kéo dài thời gian điều trị đến 24 tuần (B2)

Điều trị nhiễm HCV genotype 5 hoặc 6

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 5- lựa chọn 1

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 5 hoặc 6 có thể được điều trị với sự kết hợp PegIFN-α hàng tuần, ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân <75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) và sofosbuvir (400 mg) hàng ngày trong 12 tuần (B1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 5- lựa chọn 2

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 5 hoặc 6 có thể được điều trị với dạng kết hợp liều cố định không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) và ledipavir (90 mg) trong một viên nén uống 1 lần/ngày (A1)

• Những bệnh nhân không bị xơ gan, bao gồm những bệnh nhân chưa từng được điều trị và đã từng được điều trị, nên được điều trị với dạng kết hợp liều cố định trong 12 tuần không có ribavirin (B1)

• Dựa trên dữ liệu ở những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1, bệnh nhân xơ gan còn bù, bao gồm những bệnh nhân chưa từng được điều trị và đã từng được điều trị, nên  được điều trị với dạng kết hợp liều cố định trong 12 tuần cùng với ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg)

(B1)

• Những bệnh nhân bị xơ gan còn bù có chống chỉ định sử dụng ribavirin hoặc dung nạp kém với ribavirin trong khi điều trị nên nhận được dạng kết hợp liều cố định sofosbuvir và ledipasvir trong 24 tuần, không có ribavirin (B1)

• Dựa trên dữ liệu ở những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 1, điều trị với dạng kết hợp liều cố định sofosbuvir và ledipasvir với ribavirin có thể được kéo dài 24 tuần ở bệnh nhân đã từng được điều trị bị xơ gan còn bù và các yếu tố dự đoán đáp ứng âm tính, như số lượng tiểu cầu < 75 x 103 /μl (B1)

Điều trị nhiễm Viêm gan C HCV genotype 5- lựa chọn 3

• Những bệnh nhân nhiễm HCV genotype 5 hoặc 6 có thể được điều trị với sự kết hợp không có IFN gồm sofosbuvir (400 mg) hàng ngày và daclatasvir (60 mg) hàng ngày trong 12 tuần (B1)

• Dựa trên dữ liệu với sự kết hợp khác, khuyến cáo bổ sung ribavirin hàng ngày dựa trên cân nặng (1000 mg ở bệnh nhân < 75 kg hoặc 1200 mg ở bệnh nhân ≥ 75 kg) ở những bệnh nhân bị xơ gan (B1)

• Ở những bệnh nhân bị xơ gan có chống chỉ định sử dụng ribavirin, phải xem xét kéo

dài thời gian điều trị đến 24 tuần (B1)

Theo dõi hiệu quả điều trị viêm gan C

Khuyến cáo

• Định lượng dựa trên phản ứng chuỗi polymerase (PCR) theo thời gian thực với giới hạn phát hiện dưới ≤ 15 IU/ml nên được sử dụng để theo dõi nồng độ HCV RNA trong và sau khi điều trị (A1)

• Ở những bệnh nhân được điều trị với sự kết hợp 3 thuốc PegIFN-α, ribavirin và sofosbuvir trong 12 tuần, HCV RNA nên được đo lúc ban đầu và ở tuần thứ 4, tuần thứ 12 (lúc kết thúc điều trị), và lúc 12 tuần hoặc 24 tuần sau khi kết thúc điều trị (A2)

• Ở những bệnh nhân được điều trị với sự kết hợp 3 thuốc PegIFN-α, ribavirin và simeprevir (12 tuần cộng với 12 tuần hoặc 36 tuần dùng PegIFN-α hoặc ribavirin đơn độc), HCV RNA nên được đo lúc ban đầu, tuần thứ 4, tuần thứ 12, tuần thứ 24 (lúc kết thúc điều trị ở bệnh nhân chưa từng được điều trị và tái phát trước đó), tuần thứ 48 (lúc kết thúc điều trị ở những người đáp ứng một phần hoặc không đáp ứng trước đó), và lúc 12 tuần hoặc 24 tuần sau khi kết thúc điều trị (A2)

• Ở những bệnh nhân được điều trị với phác đồ không có IFN, HCV RNA nên được đo lúc ban đầu, tuần thứ 2 (đánh giá sự tuân thủ), tuần thứ 4, tuần thứ 12 hoặc tuần thứ 24 (lúc kết thúc điều trị ở những bệnh nhân được điều trị 12 hoặc 24 tuần, theo thứ tự tương ứng), và lúc 12 hoặc 24 tuần sau khi kết thúc điều trị (A2)

Khi nào quyết định ngừng không điều trị viêm gan c do không thấy hiệu quả

Khuyến cáo

• Với sự kết hợp 3 thuốc PegIFN-α, ribavirin và simeprevir, nên ngừng điều trị nếu nồng

độ HCV RNA ≥ 25 IU/ml ở tuần thứ 4, tuần thứ 12 hoặc tuần thứ 24 của điều trị (A2)

• Nên xem xét chuyển ngay sang phác đồ thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp (DAA) có

IFN hoặc không có IFN không có thuốc ức chế protease (B1)

• Không có quy tắc về không hiệu quả được xác định đối với những phác đồ điều trị

khác (A1)

Theo dõi độ an toàn trong điều trị viêm gan C

Phác đồ chứa PegIFN-α

Phác đồ chứa Ribavirin

Khuyến cáo

• Những phụ nữ có khả năng mang thai và/hoặc bạn tình nam giới của họ phải sử dụng một dạng tránh thai có hiệu quả trong khi dùng phác đồ điều trị có ribavirin và trong khoảng thời gian 6 tháng sau khi kết thúc điều trị (A1)

Phác đồ chứa thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp (DAA)

Khuyến cáo

• Những bệnh nhân sử dụng PegIFN-α và ribavirin nên được đánh giá về các tác dụng phụ trên lâm sàng ở mỗi lần thăm khám, trong khi tác dụng phụ về huyết học nên được đánh giá ở tuần thứ 2 và tuần thứ 4 của điều trị và ở các khoảng cách 4-8 tuần sau đó

Nên kiểm tra thường xuyên chức năng thận ở những bệnh nhân sử dụng sofosbuvir (B1)

• Phát ban và tăng bilirubin gián tiếp mà không có tăng ALT có thể được quan sát thấy với simeprevir (A1)

• Tăng bilirubin gián tiếp hiếm khi được quan sát thấy với sự kết hợp của paritaprevir được tăng cường bởi ritonavir, ombitasvir và dasabuvir (A1)

• Không cần thiết điều chỉnh liều simeprovir, sofosbuvir và ledispavir hay daclatasvir ở những bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình hoặc nặng. Liều sofosbuvir thích hợp đối với bệnh nhân có tốc độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) < 30 ml/phút/1,73 m2 chưa được xác định (B2)

• Không cần thiết điều chỉnh liều sofosbuvir cùng ledipasvir hoặc daclatasvir đối với bệnh nhân suy gan nhẹ, trung bình hoặc nặng (Child-Pugh loại C) (B2)

• Nồng độ cao hơn đã được quan sát thấy với sự kết hợp của paritaprevir được tăng cường bởi ritonavir, ombitavir và dasabuvir ở những bệnh nhân suy gan nặng và cần có nghiên cứu thêm về độ an toàn ở nhóm bệnh nhân này (B2)

Theo dõi tương tác thuốc-thuốc

Khuyến cáo

Nên theo dõi về hiệu quả và độc tính của các bệnh đi kèm và khả năng tương tác thuốc-thuốc trong thời gian điều trị (A1)

• Khi có thể, nên ngừng thuốc dùng đồng thời gây tương tác trong thời gian điều trị HCV hoặc nên chuyển từ thuốc dùng kèm gây tương tác sang một thuốc thay thế với khả năng tương tác thấp hơn (B1)

Giảm liều điều trị

Các biện pháp để cải thiện sự tuân thủ điều trị

Khuyến cáo

Việc điều trị HCV nên được đưa vào trong một thiết lập nhóm đa ngành, có kinh nghiệm trong việc đánh giá và trị liệu HCV (A1)

• Những bệnh nhân nhiễm HCV nên được tư vấn về tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị để đạt được đáp ứng virus kéo dài (SVR) (A1)

• Ở những bệnh nhân có bất lợi về kinh tế xã hội và ở những người di cư, các dịch vụ hỗ trợ xã hội nên là một phần của xử trí lâm sàng HCV (B2)

• Ở những bệnh nhân đang dùng ma túy dạng tiêm, việc tiếp cận các chương trình làm giảm tác hại là bắt buộc (A1)

• Việc hỗ trợ dựa vào người đồng đẳng nên được đánh giá như một biện ph&aa

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả