Thuốc Nintedanib 150mg điều trị xơ phổi, tác dụng phụ và cách xử lý

  01/04/2022

Bệnh xơ phổi vô căn (IPF; idiopathic pulmonary fibrosis) là bệnh lý viêm phổi mô kẽ xơ hóa mạn tính, tiến triển và không rõ nguyên nhân. Dịch Covid-19 khiến cho số bệnh nhân được chuẩn đoán xơ phổi ngày càng tăng.

Trước khi có liệu pháp chống xơ hóa, thời gian sống trung vị sau chẩn đoán IPF trong khoảng 3 – 5 năm.

Giảm dung tích sống gắng sức (FVC) đi cùng với quá trình tiến triển bệnh và là yếu tố tiên lượng của giảm thời gian sống ở bệnh nhân IPF.

Nintedanib là thuốc ức chế tyrosine kinase nội bào, có tác động chống xơ hóa, kháng viêm và kháng sinh mạch. Hiệu quả và tính an toàn của nintedanib 150 mg ngày 2 lần trong điều trị IPF đã được ghi nhận qua nghiên cứu pha 2 TOMORROW và 2 nghiên cứu pha 3 INPULSIS-1 và INPULSIS-2. Kết quả cho thấy nintedanib làm chậm tiến triển bệnh nhờ làm giảm đáng kể tốc độ giảm dung tích sống gắng sức ở bệnh nhân xơ phổi.

Vì vậy, nintedanib đã được phê duyệt trong điều trị xơ phổi. Một số thuốc có hoạt chất Nintedanib đang được lưu hành tại Việt Nam như: Thuốc Ofev, Thuốc Bronchonib 150

Dữ liệu dài hạn của nintedanib 150 mg ngày 2 lần trên bệnh nhân IPF cũng đã được đánh giá cho thấy hiệu quả làm chậm diễn tiến bệnh với hồ sơ an toàn và dung nạp có thể quản lý được về lâu dài

Tiêu chảy và buồn nôn là 2 triệu chứng thường gặp nhất ở nhóm bệnh nhân IPF điều trị với nintedanib. Đa số các triệu chứng ở đường tiêu hóa đều có thể kiểm soát được.

− Trong nghiên cứu INPULSIS, chỉ 4.4% bệnh nhân IPF nhóm nintedanib phải ngừng điều trị do tiêu chảy.

− 44% bệnh nhân xảy ra tiêu chảy trong tháng điều trị đầu tiên và 67.1% xảy ra trong vòng 3 tháng đầu. Hầu hết bệnh nhân tiêu chảy < 4 lần/ngày.

Tăng men gan được ghi nhận nhưng không thường gặp khi điều trị IPF với nintedanib.

Đa số bệnh nhân có giá trị men gan trở về bình thường khi giảm liều hoặc tạm ngưng điều trị ngắn hạn hoặc ở cuối đợt điều trị.

Kết quả theo dõi dài hạn trên bệnh nhân xơ phổi (nghiên cứu INPULSIS-ON) đã cho thấy nintedanib có hồ sơ an toàn và dung nạp có thể kiểm soát được và không xuất hiện thêm biến cố an toàn mới sau một khoảng thời gian điều trị lên đến 68 tháng

KIỂM SOÁT TRIỆU CHỨNG BUỒN NÔN & NÔN

Đa số trường hợp, buồn nôn thường xuất hiện sớm, trong khi nôn xảy ra ở bất cứ thời điểm nào lúc bắt đầu điều trị.

Có thể giảm liều điều trị nintedanib (100 mg ngày 2 lần) nếu triệu chứng buồn nôn không cải thiện với các liệu pháp trên.

Khi tác dụng ngoại ý đã được giải quyết, liều nintedanib có thể điều chỉnh trở lại đến liều tối ưu mà không xảy ra tác dụng ngoại ý.

Các lựa chọn prokinetic như:

• kháng thụ thể dopamin D2 (metoclopramide), hoặc

• kháng thụ thể 5-HT2c, hoặc

• kháng thụ thể 5-HT3c (odansetron).7

Kiểm soát triệu chứng

Theo Corte T et al. Respir Res (2015); 16 Bendstrup E et al. Respiration (2019);97(2)

HƯỚNG DẪN XỬ TRÍ BUỒN NÔN VÀ NÔN TRÊN BỆNH NHÂN IPF

ĐIỀU TRỊ VỚI NINTEDANIB

Trong nghiên cứu INPULSIS, các trường hợp buồn nôn và nôn thường ở mức độ nhẹ và trung bình. Phần lớn bệnh nhân IPF điều trị với nintedanib chỉ xảy ra 1 lần buồn nôn (74.4%) và nôn (73.0%)

KIỂM SOÁT TRIỆU CHỨNG TIÊU CHẢY

Đi phân 4 – 6 lần, hoặc cần truyền dịch tĩnh mạch < 24 giờ; không ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày

Nếu tiêu chảy vẫn dai dẳng ≥ 8 ngày mặc dù đã điều trị tối ưu:

• Giảm liều nintedanib đến 100 mg ngày 2 lần hoặc ngưng điều trị cho đến khi hồi phục.

• Có thể ngưng điều trị tối đa đến 4 tuần; sau đó điều trị lại với liều 100 mg ngày 2 lần.

• Tăng liều trở lại trong vòng 4 tuần giảm liều.

Nếu tiêu chảy xảy ra trong vòng ≥ 8 ngày liên tiếp mặc dù đã giảm liều và có trị liệu dự phòng hoặc điều trị triệu chứng tối ưu:

Chấm dứt điều trị và tiếp tục theo dõi.

Điều trị với thuốc chống tiêu chảy như loperamide khi cần thiết

HƯỚNG DẪN XỬ TRÍ TIÊU CHẢY TRÊN BỆNH NHÂN IPF ĐIỀU TRỊ VỚI NINTEDANIB

Nghiên cứu INPULSIS ghi nhận chỉ 55.3% bệnh nhân tiêu chảy phải điều trị triệu chứng bằng loperamide. Trong đó, phần lớn bệnh nhân không cần giảm liều hoặc ngừng điều trị với nintedanib

Đi phân > 6 lần hoặc tiêu phân không tự chủ; hoặc truyền dịch tĩnh mạch ≥ 24 giờ; hoặc phải nhập viện; hoặc giảm hoạt động hàng ngày

• Ngưng điều trị nintedanib

• Dùng thuốc chống tiêu chảy như loperamide cho đến khi hồi phục (< 4 lần đi phân/ngày)

Cân nhắc tái điều trị với liều giảm 100 mg ngày 2 lần

Nếu tiêu chảy xảy ra trong vòng ≥ 8 ngày liên tiếp mặc dù đã giảm liều và có trị liệu dự phòng hoặc điều trị triệu chứng tối ưu:

Chấm dứt điều trị và tiếp tục theo dõi

KIỂM SOÁT TÌNH TRẠNG TĂNG MEN GAN

Trong nghiên cứu INPULSIS, tăng men gan (AST hoặc ALT) được định nghĩa là có giá trị ≥ 3 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN).

Các chuyên gia khuyến cáo nên đánh giá men gan và bilirubin máu trước khi bắt đầu điều trị với nintedanib và tái đánh giá mỗi 4 tuần trong 6 tháng đầu tiên và sau đó, mỗi 3 tháng hoặc khi cần thiết

XỬ TRÍ TĂNG MEN GAN TRÊN BỆNH NHÂN IPF ĐIỀU TRỊ VỚI NINTEDANIB

Chấm dứt điều trị trong trường hợp men gan tăng ≥ 8 ULN hoặc có biểu hiện tổn

thương gan nặng. Bệnh nhân cần được tiếp tục theo dõi bao gồm các xét nghiệm (sinh

hóa, huyết thanh, hormon kích thích tuyến giáp) và siêu âm bụng.

Men gan tăng ≥ 3 - < 5 ULN:

Giảm liều nintedanib đến 100 mg ngày 2 lần hoặc ngưng điều trị

Kiểm tra xét nghiệm trong 48 - 72 giờ, bao gồm ALT, AST, phosphatase kiềm, bilirubin toàn phần và eosinophil

Kiểm tra lại các xét nghiệm này trong vòng 7 ngày và 2 tuần sau lần biểu hiện tăng men gan

Nếu ALT hoặc AST < 3 ULN sau 2 tuần

Cân nhắc trở lại liều 150 mg x 2 nếu đã giảm liều

Khởi trị lại với liều 100 mg x 2 nếu đã ngưng điều trị

Cân nhắc xét nghiệm mỗi 2 tuần ít nhất trong 8 tuần

Nếu ALT hoặc AST ≥ 3 ULN sau ≥ 2 tuần

Chấm dứt điều trị

Men gan tăng ≥ 5 - < 8 ULN:

Tạm ngưng điều trị

Kiểm tra xét nghiệm trong 48 - 72 giờ, bao gồm ALT, AST, phosphatase kiềm, bilirubin toàn phần và eosinophil

Kiểm tra lại các xét nghiệm này trong vòng 7 ngày và 2 tuần sau lần biểu hiện tăng men gan

Nếu ALT hoặc AST < 3 ULN sau 2 tuần

Khởi trị lại với liều 100 mg x 2

Theo dõi xét nghiệm mỗi tuần trong 4 tuần và sau đó, mỗi 2 tuần ít nhất trong 8 tuần

Nếu ALT hoặc AST ≥ 3 ULN sau ≥ 2 tuần

Chấm dứt điều trị

Tác giả bài viết: Dược sĩ Đỗ Thế Nghĩa, Đại Học Dược Hà Nội. Bài viết có tham khảo thông tin từ website: https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa1908681

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả

Hà Nội: Số 45C Ngõ 143/34 Nguyễn Chính Quận Hoàng Mai Hà Nội
TP HCM: Số 184 Lê Đại Hành P15 Quận 11
Đặt hàng: 0972945305/ Tư vấn: 0906297798
Hotline: 0869966606